LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM (TỪ NĂM 2021 ĐẾN NAY)

08.04.2026 10:06424 đã xem

TÊN TÁC PHẨM: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM (TỪ NĂM 2021 ĐẾN NAY). ĐẠT GIẢI KHUYẾN KHÍCH Thể loại: Tạp chí điện tử

Tóm tắt:

Bài viết phân tích lý luận và thực tiễn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam từ năm 2021 đến nay, trong bối cảnh đất nước vượt qua đại dịch Covid-19 và đối mặt nhiều thách thức toàn cầu. Tác phẩm làm rõ mô hình phát triển đặc thù của Việt Nam: kết hợp kinh tế thị trường với định hướng XHCN, giữ vững ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế, nâng cao vị thế quốc tế. Qua so sánh với Trung Quốc và Cuba, bài viết chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Được trình bày theo hình thức tạp chí điện tử, bài viết đảm bảo tính thời sự, liên ngành và lan tỏa mạnh mẽ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Từ khóa: Chủ nghĩa xã hội, Kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đại hội XIII, Phát triển bền vững, Định hướng đến 2045.

Nội dung:

  1. MỞ ĐẦU

CNXH là định hướng chiến lược chủ chốt của Đảng ta và toàn thể nhân dân Việt Nam, nhằm kiến tạo một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhận định rằng đây là vấn đề nền tảng về lý luận và thực tiễn, có phạm vi bao trùm và nhiều tầng nội dung, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng, sâu sắc và khoa học. Nhận định này càng trở nên đúng đắn trong bối cảnh hiện nay, khi việc xây dựng CNXH tại Việt Nam đang đứng trước những thách thức và cơ hội mới.

Giai đoạn sau Đại hội XIII, đất nước ta đối mặt với những biến động chưa từng có, đặc biệt là ảnh hưởng toàn diện từ đại dịch COVID-19 đến kinh tế - xã hội. Sự xuất hiện của các vấn đề toàn cầu mới như cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), cùng với những vấn đề nội tại như bất bình đẳng xã hội, lạm phát, chất lượng giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường đang đòi hỏi những giải pháp mang tính đột phá và căn cơ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và các biến động phức tạp của tình hình thế giới, việc nghiên cứu và tổng kết những bài học kinh nghiệm về xây dựng CNXH càng trở nên quan trọng để định hướng cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Bài viết này nhằm phân tích cả về mặt lý luận và thực tiễn con đường xây dựng CNXH ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2021 đến nay. Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận liên ngành, kết hợp phân tích định tính với số liệu định lượng cập nhật đến năm 2024, đồng thời đặt mô hình phát triển của Việt Nam trong bối cảnh so sánh quốc tế. Thông qua việc đánh giá những thành tựu đã đạt được, những khó khăn thách thức phải đối mặt, cũng như bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình thực hiện, nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

  1. NỀN TẢNG LÝ THUYẾT CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM
    1. Bản chất của chủ nghĩa xã hội và đặc thù Việt Nam

Chủ nghĩa xã hội là mô hình tổ chức xã hội - kinh tế được xây dựng trên nền tảng công bằng, dân chủ và văn minh, vượt lên trên những giới hạn của chủ nghĩa tư bản. Theo tư tưởng Mác - Lênin và Hồ Chí Minh, CNXH là giai đoạn phát triển cao của nhân loại, nơi mà giai cấp đối kháng bị xóa bỏ, con người được giải phóng toàn diện và là chủ thể thực sự trong quá trình sáng tạo, phân phối và hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần.

Ở Việt Nam, CNXH được hiểu không chỉ dưới góc nhìn lý luận mà còn là mục tiêu thực tiễn được toàn Đảng và nhân dân kiên định theo đuổi. Con đường đi lên CNXH ở nước ta là một tiến trình lâu dài, có đặc thù riêng, đòi hỏi phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận với thực tiễn, giữa tính nguyên tắc và sự sáng tạo trong từng giai đoạn phát triển cụ thể.

    1. Nhận thức của Đảng về việc xây dựng CNXH được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội XIII

Tại Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục phát triển sâu sắc hơn nhận thức lý luận và thực tiễn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, Đảng xác định các định hướng chiến lược gồm: xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập; phát triển nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đẩy mạnh dân chủ gắn với phòng, chống tham nhũng hiệu quả; phát triển toàn diện văn hóa như nền tảng tinh thần và động lực nội sinh của phát triển.

Đồng thời, Đảng nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình và hợp tác. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt là tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Những định hướng này không chỉ thể hiện tính nhất quán trong tầm nhìn phát triển đất nước mà còn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ mới.

    1. Đặc điểm của mô hình CNXH ở Việt Nam trong so sánh quốc tế

So với mô hình CNXH ở các nước khác, mô hình CNXH của Việt Nam có những điểm đặc thù riêng. So với Trung Quốc, cả hai quốc gia đều theo đuổi kinh tế thị trường định hướng XHCN, tuy nhiên Việt Nam với thị trường nhỏ hơn đã chọn lựa chiến lược hội nhập quốc tế sâu rộng thông qua ký kết nhiều FTA và thu hút FDI, trong khi Trung Quốc tập trung nhiều hơn vào phát triển thị trường nội địa.

So với Cuba, mô hình CNXH của Việt Nam mang tính thực dụng hơn trong phát triển kinh tế thị trường và thu hút đầu tư nước ngoài. Trong khi Cuba vẫn duy trì mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung với những cải cách hạn chế, Việt Nam đã mở cửa mạnh mẽ nền kinh tế từ Đổi mới 1986.

Đặc thù của mô hình CNXH Việt Nam còn thể hiện ở cách tiếp cận từng bước, thực tiễn trong quá trình cải cách theo phương châm “vừa làm vừa rút kinh nghiệm”. Mô hình này đã chứng minh tính hiệu quả qua việc duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định trong nhiều thập kỷ, đồng thời giảm thiểu được các cú sốc xã hội mà nhiều nền kinh tế chuyển đổi khác phải trải qua.

  1. NHỮNG CHUYỂN ĐỘNG THỰC TẾ TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CNXH TẠI VIỆT NAM KỂ TỪ NĂM 2021 ĐẾN NAY
    1. Bối cảnh trong nước và quốc tế

Tình hình quốc tế và trong nước từ năm 2021 đến nay có nhiều biến động phức tạp, tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Về bối cảnh quốc tế, thế giới đã trải qua những thay đổi sâu sắc: đại dịch Covid-19 tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống toàn cầu; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột Nga - Ukraine kéo dài; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những đột phá về công nghệ số, trí tuệ nhân tạo; và các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Khu vực thì tình hình căng thẳng ở Biển Đông và cạnh tranh địa chính trị tại Đông Nam Á tiếp tục diễn biến khó lường.

Về bối cảnh trong nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội: kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức khá; công tác phòng, chống dịch Covid-19 đạt kết quả tích cực; và quá trình cơ cấu lại nền kinh tế được đẩy mạnh. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn những hạn chế như năng suất chưa cao, việc thực hiện ba đột phá chiến lược còn chậm, và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa hoàn thiện đồng bộ.

    1. Những thành tựu nổi bật

Giai đoạn từ năm 2021 đến nay đã đánh dấu những bước tiến quan trọng trong công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam với nhiều thành tựu nổi bật:

Về kinh tế, sau khi tăng trưởng chững lại do tác động của đại dịch Covid-19 vào năm 2021 (với mức tăng GDP chỉ đạt 2,58%), nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi mạnh mẽ, ghi nhận mức tăng trưởng 8,02% vào năm 2022 – mức cao nhất trong hơn hai thập niên. Năm 2023, dù bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng ổn định 5,05% và được dự báo đạt 6,5–7,0% trong năm 2024.

Đáng chú ý, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đã tăng từ 37% lên 45,5% trong giai đoạn 2021–2023, cho thấy chất lượng tăng trưởng được cải thiện rõ rệt. Kim ngạch xuất khẩu đạt kỷ lục 371,85 tỷ USD vào năm 2022 và tiếp tục phục hồi ấn tượng trong nửa đầu năm 2024 với mức tăng 14,5% so với cùng kỳ.

Việt Nam cũng đang nổi lên như một điểm đến hấp dẫn cho các dòng vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ cao. Các dự án lớn như nhà máy sản xuất chip trị giá 1,6 tỷ USD của Amkor Technology và trung tâm nghiên cứu AI trị giá 500 triệu USD của Google đã góp phần đánh dấu bước dịch chuyển quan trọng từ mô hình thâm dụng lao động sang phát triển kinh tế dựa trên tri thức, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Điều này không chỉ nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng toàn cầu mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế số một cách bền vững.

Tổ hợp bán dẫn Amkor tại khu công nghiệp Yên Phong – Bắc Ninh là một trong những dự án công nghệ lớn tại Việt Nam

Trong lĩnh vực an sinh xã hội, Chính phủ đã triển khai gói hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi Covid-19 với tổng giá trị lên đến 62.000 tỷ đồng năm 2021. Tỷ lệ hộ nghèo tính theo chuẩn đa chiều đã giảm mạnh, từ 9,35% năm 2020 xuống còn khoảng 2,93% vào cuối 2023. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam tăng từ 0,704 (2019) lên 0,723 (2023), gia nhập nhóm quốc gia có HDI cao.

Việt Nam đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong lĩnh vực giáo dục trong những năm gần đây. Một số trường đại học hàng đầu tại Việt Nam như ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM và ĐH Tôn Đức Thắng đã được quốc tế ghi nhận trong các bảng xếp hạng uy tín toàn cầu. Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đã được triển khai toàn quốc nhằm phát huy phẩm chất và năng lực người học. Việc ứng dụng công nghệ trong giáo dục ngày càng phổ biến, thể hiện qua lớp học số, nền tảng trực tuyến và quản lý số hóa. Đoàn học sinh Việt Nam tiếp tục đạt nhiều thành tích ấn tượng tại các kỳ thi Olympic quốc tế ở các môn khoa học tự nhiên. Đặc biệt, nhiều dự án đầu tư cho giáo dục vùng khó khăn đã được triển khai, góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền và tạo cơ hội học tập bình đẳng cho học sinh dân tộc thiểu số.

Việt Nam đã đưa vào hoạt động lớp học thông minh đầu tiên tại trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám, Hà Nội. (Ảnh: Tuấn Hưng)

Trong công tác phòng chống tham nhũng, nhiều vụ án lớn đã được điều tra, xử lý như vụ án Việt Á, FLC, SCB, và Xuyên Việt Oil, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc làm trong sạch bộ máy. Việc xử lý các vụ án lớn còn đi kèm với việc hoàn thiện cơ chế chính sách, khắc phục những kẽ hở pháp lý, từng bước xây dựng văn hóa liêm chính trong bộ máy nhà nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước như Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Australia đã được nâng tầm lên cấp chiến lược.

Về văn hóa - xã hội, nhiều di sản văn hóa của Việt Nam tiếp tục được UNESCO công nhận. Trong lĩnh vực y tế, Việt Nam đã phát triển thành công vaccine Covid-19 Nanocovax và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý y tế. Về môi trường, thông qua chiến lược tăng trưởng xanh, Việt Nam thể hiện quyết tâm đạt mức phát thải carbon bằng 0 vào năm 2050.

Nhà nước đã thực hiện nhiều chương trình mục tiêu quốc gia có tác động sâu rộng trong lĩnh vực an sinh và phát triển vùng. Nhờ triển khai đồng bộ các chính sách giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều đã giảm rõ rệt trong 3 năm gần đây. Đáng chú ý, các huyện nghèo vùng cao, biên giới đã được đầu tư hạ tầng cơ bản với hơn 1.500 công trình giao thông, thủy lợi, trường học và trạm y tế trong giai đoạn 2021-2023. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, mạng lưới trường bán trú dân nuôi đã được mở rộng, tạo điều kiện cho hơn

180.000 học sinh dân tộc thiểu số được tiếp cận giáo dục bền vững. Đặc biệt, chính sách hỗ trợ học phí và học bổng cho học sinh khó khăn đã giúp tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số hoàn thành bậc trung học cơ sở tăng từ 76% năm 2020 lên 85% năm 2023. Những thành tựu này không chỉ thể hiện nỗ lực đảm bảo công bằng xã hội - một đặc trưng cơ bản của CNXH, mà còn minh chứng cho hiệu quả của mô hình phát triển Việt Nam trong việc kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

Chương trình xóa đói giảm nghèo đạt được 1 số thành tựu nhất địnhẢnh minh họa: nhanquyenvn.org

    1. Những hạn chế và thách thức

Bên cạnh các kết quả tích cực, quá trình xây dựng CNXH còn tồn tại nhiều điểm yếu và trở ngại cần khắc phục:

Về hạn chế nội tại, mô hình phát triển hiện tại vẫn thiên về khai thác tài nguyên và vốn, trong khi năng suất lao động và cơ cấu chuyển dịch còn chậm. Theo thống kê, năng suất lao động của Việt Nam năm 2023 vẫn còn cách biệt lớn so với các nước phát triển trong khu vực. Cải cách hành chính chưa thực sự hiệu quả, công tác quản lý nhà nước vẫn còn nhiều bất cập, và tình trạng tham nhũng và lãng phí chưa được giải quyết triệt để. Theo Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (CPI), Việt Nam đã có cải thiện từ 36/100 điểm năm 2020 lên 41/100 điểm năm 2023, nhưng vẫn cần nỗ lực nhiều hơn. Nguồn nhân lực hiện nay vẫn chưa đạt chuẩn về chất lượng, nhất là ở các ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật cao.

Về thách thức bên ngoài, Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các cường quốc, xung đột địa chính trị và biến động khó lường của thị trường tài chính toàn cầu. Đặc biệt, cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung đặt Việt Nam trước thách thức trong việc cân bằng quan hệ với các cường quốc để duy trì độc lập, tự chủ trong chính sách đối ngoại. Hậu quả của đại dịch Covid-19 như gián đoạn chuỗi cung ứng và áp lực lạm phát vẫn còn ảnh hưởng. Tác động của biến đổi khí hậu đang trở thành vấn đề cấp bách, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống và sản xuất. Ngân hàng Thế giới dự báo Việt Nam sẽ thiệt hại nghiêm trọng do biến đổi khí hậu, có thể lên tới 12–14% GDP vào 2050. Các thách thức xã hội như già hóa dân số, bất bình đẳng và tiếp cận dịch vụ không đồng đều đang đặt ra nhiều vấn đề cho phát triển bền vững.

    1. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ đề lý luận then chốt trong phát triển kinh tế Việt Nam.

Việt Nam đã vận dụng linh hoạt các quy luật của kinh tế thị trường trong khi vẫn bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn từ 2021 đến nay cho thấy mối quan hệ này ngày càng được làm rõ và hoàn thiện:

Đầu tiên, về vai trò của nhà nước trong kinh tế. Chính phủ giữ vai trò định hướng và điều tiết vĩ mô song song với việc đảm bảo cạnh tranh công bằng trong mọi thành phần kinh tế. Điều này thể hiện qua việc Chính phủ liên tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh (nâng 10 bậc trong xếp hạng Môi trường kinh doanh từ 2020 đến 2023).

Thứ hai, về sở hữu và phân phối. Dù khuyến khích đa dạng hóa sở hữu, Việt Nam vẫn coi kinh tế nhà nước là nòng cốt, song hành cùng kinh tế tư nhân phát triển. Điều này thể hiện qua việc một mặt đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, một mặt ban hành nhiều chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển.

Cuối cùng, về phân phối lợi ích. Trong khi thừa nhận phân phối theo hiệu quả lao động và đóng góp vốn, Việt Nam vẫn duy trì các chính sách phân phối lại thông qua thuế và chi tiêu công nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Mô hình này đã cho thấy hiệu quả khi Việt Nam vừa đạt được tăng trưởng kinh tế khá, vừa duy trì được ổn định xã hội và cải thiện đời sống người dân.

  1. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG CNXH Ở VIỆT NAM
    1. Định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội đến năm 2045 Việt Nam đặt khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, dựa trên nền tảng công bằng và văn minh xã hội chủ nghĩa. Để hiện thực hóa tầm nhìn, Đảng và Nhà nước đã xác lập rõ các hướng ưu tiên chiến lược:

Về kinh tế, định hướng phát triển của Việt Nam tập trung vào ba trụ cột: kinh tế số, công nghiệp hiện đại và tăng trưởng xanh. Việc xây dựng một hệ thống doanh nghiệp nội địa vững mạnh, khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát triển các ngành công nghệ cao sẽ là động lực quan trọng giúp Việt Nam nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh quốc tế.

Về chính trị, Việt Nam tiếp tục củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao vai trò của pháp luật và đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng. Đặc biệt, việc tổ chức lại bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn đang được triển khai nhằm nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị. Đồng thời, quốc gia cũng chủ động hội nhập toàn cầu, tăng cường hợp tác chiến lược và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.

Về xã hội, Việt Nam chú trọng phát triển con người, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục và y tế nhằm tạo nền tảng vững chắc cho một xã hội tiến bộ, hài hòa.

    1. Các giải pháp cụ thể

Việc tiếp tục con đường CNXH đòi hỏi phải thực hiện hệ thống giải pháp toàn diện và nhất quán, các giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, tái cơ cấu mô hình phát triển theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số là yêu cầu cấp thiết. Việt Nam cần chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên sang mô hình dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ và năng suất lao động. Việc tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sẽ tạo nền tảng đột phá cho các ngành kinh tế chủ lực. Đồng thời, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất – kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả, giảm phụ thuộc vào tài nguyên và hướng tới phát triển bền vững.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước. Trọng tâm là cải cách hành chính thực chất, giảm thủ tục rườm rà, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Cần xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động công vụ và nâng cao trách nhiệm giải trình. Đồng thời, kiên quyết phòng, chống tham nhũng và lãng phí để củng cố niềm tin xã hội.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với chuyển đổi số và công nghiệp hiện đại. Đổi mới căn bản giáo dục theo hướng phát triển năng lực, kỹ năng; mở rộng đào tạo nghề, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật và dịch vụ chất lượng cao. Tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ chế thu hút và sử dụng hiệu quả đội ngũ nhân tài.

Thứ tư, thúc đẩy phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Ưu tiên chuyển đổi năng lượng theo hướng xanh, sạch; nâng cao tỷ trọng năng lượng tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính. Hướng tới thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 bằng những chương trình hành động cụ thể và khả thi.

Thứ năm, bảo đảm an sinh xã hội và mở rộng tiếp cận các dịch vụ cơ bản cho người dân. Cần mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, y tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Hướng đến mục tiêu giảm bất bình đẳng, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và nâng cao chất lượng sống, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

    1. Vai trò của nhân dân trong quá trình xây dựng CNXH

Nhân dân không chỉ là trung tâm mà còn là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt từ sau năm 2021, trong bối cảnh nhiều biến động phức tạp, vai trò này ngày càng trở nên rõ nét và quyết định.

Trên phương diện kinh tế, người dân – với tư cách là người lao động, nhà đầu tư, chủ thể đổi mới – đã trực tiếp góp phần phục hồi và phát triển nền kinh tế sau đại dịch. Từ hộ kinh doanh, hợp tác xã đến doanh nghiệp tư nhân, mọi thành phần đều có vai trò nhất định trong việc nâng cao năng suất, thúc đẩy khởi nghiệp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Trong lĩnh vực chính trị, nhân dân giữ vị trí quan trọng trong việc xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh thông qua thực thi quyền làm chủ: bầu cử, phản biện, giám sát xã hội và tham gia trực tiếp ở cơ sở. Chính sự đồng thuận của nhân dân là yếu tố nền tảng để triển khai hiệu quả các cải cách thể chế và đổi mới mô hình quản trị quốc gia.

Về văn hóa – xã hội, nhân dân không đơn thuần là người hưởng lợi, mà là chủ thể gìn giữ, phát huy bản sắc, tạo dựng lối sống văn minh và xây dựng cộng đồng phát triển bền vững. Ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước chính là động lực nội sinh quan trọng trong hành trình phát triển đất nước. Để tiếp tục phát huy vai trò này, cần thiết lập các cơ chế thực chất nhằm khuyến khích nhân dân tham gia vào việc hoạch định, thực thi và giám sát chính sách. Chính nhân dân là cầu nối giúp những chủ trương lớn của Đảng trở thành hiện thực trong đời sống hàng ngày.

  1. KẾT LUẬN

Những thành tựu đạt được từ năm 2021 đến nay cho thấy tính đúng đắn và hiệu quả của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Việc kết hợp linh hoạt giữa kinh tế thị trường hiện đại với định hướng xã hội chủ nghĩa đã hình thành một mô hình phát triển riêng biệt, giúp Việt Nam duy trì tăng trưởng trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng.

Tuy nhiên, chặng đường phía trước vẫn còn nhiều thách thức, từ biến đổi khí hậu, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, cho đến cuộc cách mạng công nghệ mới. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng trong việc hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân và nâng cao năng lực thích ứng của bộ máy quản lý.

Điều cốt lõi là phải tiếp tục kiên định nền tảng tư tưởng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời biết cách vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh thực tiễn, tránh giáo điều và rập khuôn. Việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa truyền thống cách mạng và sáng tạo đổi mới sẽ là động lực giúp Việt Nam từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển hùng cường vào năm 2045.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2021), Tóm lược những nội dung trọng tâm trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  2. Văn phòng Chính phủ. (2021–2023), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội các năm, Hà Nội.
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Tổng hợp văn kiện Đại hội XIII, Tập 1 & 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2023), Nghị quyết TW 5 khóa XIII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
  5. Nguyễn Phú Trọng. (2022). “Một số luận điểm lý luận và thực tiễn về con đường xây dựng CNXH tại Việt Nam”. Chính trị quốc gia – Sự thật.
  6. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2022), “Củng cố sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng CNXH”, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 5 (2022).
  7. Trần Văn Phòng (2023), “Một số vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 9 (2023).
  8. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2022), Kinh tế Việt Nam hậu đại dịch Covid-19, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  9. UNDP Việt Nam (2023). Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2022.
  10. World Bank (2023). Vietnam Economic Review 2022 and Outlook 2023.
  11. Tổng cục Thống kê (2023). “Báo cáo kinh tế – xã hội 2022 và phương hướng năm 2023”.

Tin tức khác